Chăn nuôi hữu cơ, an toàn sinh học: Lời giải cho bài toán chăn nuôi nông hộ?

13/10/20 12:10:38 Lượt xem: 122
Chăn nuôi lợn nông hộ là bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống chăn nuôi nói chung ở nước ta. Đây là mưu sinh của hàng triệu người dân nông thôn, đóng góp lớn trong thị phần của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, đây lại là khu vực chăn nuôi đang ở thế yếu trước áp lực của dịch bệnh và hội nhập. Làm sao để chăn nuôi lợn nông hộ trụ vững là bài toán không hề dễ.

 

Chăn nuôi lợn hữu cơ tại một nông hộ tại Bắc Giang

 

Để không ai bị bỏ lại phía sau…

 

Theo Cục Chăn nuôi, thời điểm năm 2018, thời điểm chưa xảy ra ASF, số lượng lợn xuất chuồng của Việt Nam đạt hơn 49 triệu con, với sản lượng thịt hơi đạt gần 3,82 triệu tấn. ASF xảy ra từ năm 2019 làm cho lợn xuất chuồng của cả nước chỉ đạt trên 38 triệu con, giảm 22,3% về số lượng, với sản lượng thịt hơi gần 3,3 triệu tấn giảm 13,8% (trong đó tiêu hủy do ASF là 9%, còn 4,8% do giảm đàn).

 

ASF cũng đã khiến cho người chăn nuôi nông hộ kiệt quệ, số lượng hộ chăn nuôi lợn giảm nhanh. Năm 2016 số lượng hộ chăn nuôi lợn của cả nước giảm còn 3,4 triệu hộ và năm 2018 còn 2,5 triệu hộ với tổng đàn là 13,8 triệu con. Tính đến tháng 8/2019, tổng số hộ chăn nuôi lợn của cả nước chỉ còn trên 1,7 triệu hộ với tổng đàn 11,3 triệu con.

 

Ông Nguyễn Xuân Dương –Quyền cục trưởng Cục chăn nuôi, chăn nuôi nông hộ cùng đồng hành với chăn nuôi công nghiệp, trang trại để phát triển. Bởi chăn nuôi nông hộ đáp ứng nhu cầu an ninh thực phẩm, sinh kế cho người nông dân, giảm áp lực và mặt trái của chăn nuôi quy mô lớn. Chăn nuôi tập trung quy mô quá lớn, sẽ xảy ra vấn đề ô nhiễm môi trường và tăng gánh nặng thị trường. Nông hộ có tác dụng tích cực trong điều hòa và phát triển bền vững chăn nuôi. Rõ ràng, chăn nuôi nông hộ là cần thiết và vẫn đồng hành cùng với chăn nuôi trang trại và chăn nuôi công nghiệp một thời gian dài nữa. Nông thôn nhà nào cũng có cơ sở vật chất chăn nuôi, chúng ta không thể bỏ phí.

 

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng, giải quyết vấn đề tăng đàn lợn không khó, tuy nhiên với 2,4 triệu hộ chăn nuôi, chiếm 49% sản lượng thịt lợn, không tạo được môi trường thuận lợi, không giải quyết được công ăn việc làm còn là câu chuyện an ninh lương thực, an ninh thực phẩm…

 

Bên cạnh đó, nếu không phát triển chăn nuôi nông hộ thì nguồn cung thịt lợn sẽ thiếu ổn định, thiếu bền vững. Tuy nhiên chăn nuôi nông hộ vẫn đang có những điểm nghẽn cần tháo gỡ, cần phải giải quyết để không những giải quyết nhu cầu trong nước mà còn hướng đến xuất khẩu.

 

Chăn nuôi hữu cơ ở Quế Lâm: Phù hợp với chăn nuôi nông hộ?

 

TS Nguyễn Kim Cúc – Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi, hiện ngành chăn nuôi lợn Việt Nam đang trên đà phục hồi, vấn đề ở chỗ, ở khu vực chăn nuôi lớn các doanh nghiệp lớn đảm bảo được an toàn sinh học, nhưng quan trọng nhất là khu vực hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tái đàn rất khó khăn do giống đắt và chưa đảm bảo an toàn dịch bệnh. Những nhân tố chính để đảm bảo cho chăn nuôi bền vững và hiệu quả đó là các khâu từ giống vật nuôi, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh, xử lý môi trường… đều phải được kiểm soát và thực hiện chặt chẽ theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học.

 

Theo ông Nguyễn Xuân Dương, các doanh nghiệp, tập đoàn chăn nuôi lớn họ đã tự đầu tư các trung tâm nghiên cứu lớn, máy móc, con người trình độ cao. Còn chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ là nhóm yếu thế, bởi vậy các cơ quan chuyên ngành phải tìm cho họ một giải pháp công nghệ để có thể tiếp tục đồng hành cùng ngành chăn nuôi.

 

Năm 2019, tập đoàn Quế Lâm là nơi ghi dấu kỳ tích những mô hình chăn nuôi của vượt qua dịch tả lợn châu Phi và đã được lãnh đạo Bộ NN&PTNT chỉ đạo nhân rộng mô hình phù hợp với chăn nuôi nông hộ ra nhiều tỉnh thành trên cả nước.

 

Đại diện tập đoàn Quế Lâm cho biết đã phát triển chăn nuôi hữu cơ (lợn, gia cầm). Cụ thể, sử dụng ngô, đậu tương do người dân trồng làm thức ăn. Sử dụng chế phẩm vi sinh nhập khẩu từ Nhật Bản (được phép của Chính phủ Nhật sử dụng cho chăn nuôi hữu cơ tại Nhật) vào thức ăn, nước uống giúp tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, tăng cường sức khỏe vật nuôi, tăng tính chống chịu bệnh tật và quản lý một số bệnh cho vật nuôi. Cùng với đó, tập đoàn cũng sử dụng đệm lót sinh học được sử dụng trong chăn nuôi (không dùng nước tắm, rửa chuồng) – không mùi hôi. Kết quả lợn tăng trọng trung bình 20-23kg/tháng, không sử dụng kháng sinh, không bị mắc bệnh (kể cả ASF), thịt chất lượng cao và chỉ số tiêu thụ thức ăn 2,6-2,7.

 

Hiện nay có hàng trăm nông hộ ở các tỉnh như Thừa Thiên Huế, Thái Nguyên, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Sơn La, TP Hồ Chí Minh… đang nuôi theo mô hình của tập đoàn có đầu vào, đầu ra ổn định, giá cao, không bị dịch bệnh. Không nước thải, không mùi hôi và không bị địa phương, xóm làng cấm đoán.

 

Ông Nguyễn Công Tạc – Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ cho biết: “Chúng ta không nên quan tâm quá nhiều đến những tập đoàn lớn nước ngoài vì mục tiêu của họ là lợi ích. Thực tiễn đã chứng minh, Tập đoàn Quế Lâm với những mô hình rất tốt của mình đã đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa đến người nông dân. Đây là một triết lý rất quan trọng. Xưa nay nông dân chúng ta chủ yếu vẫn sản xuất quy mô nhỏ, cách làm theo truyền thống, ứng dụng công nghệ rất hạn chế, vốn nhỏ…  Tập đoàn Quế Lâm đã tiếp thu công nghệ và đưa công nghệ đó đến với người nông dân”.

 

Thứ trưởng Phạm Công Tạc đề nghị Bộ NN&PTNT xin ý kiến các chuyên gia từng lĩnh vực một để phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm đưa ra các giải pháp, nhiệm vụ xây dựng cấp thiết đề án chăn nuôi theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học.

 

Chăn nuôi hữu cơ: Còn bề bộn khó khăn…

 

Theo đại diện Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Chính phủ và các bộ/ngành đã ban hành một số chính sách nhằm quản lý và phát triển nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học. Đó là như Nghị định 109/2018/NĐ-CP của Chính phủ về Nông nghiệp hữu cơ, Quyết định số 885/2020/QĐ của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề án Nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, Thông tư số 16/2019-BNN Quy định về Chi tiết các một số điều của Nghị định định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2020 của Chính phủ. Tuy nhiên nông nghiệp theo hướng hữu cơ và chăn nuôi lợn nói riêng ở nước ta còn gặp phải nhiều khó khăn.

 

Cụ thể các nguyên nhân như: 1, thiếu tổ chức liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm, trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm; 2. nhiều chuỗi thịt lợn hữu cơ được xây dựng song mới chú ý vào khâu nuôi mà chưa quan tâm đến khâu bảo quản, chế biến, quản lý chuỗi và xử lý chất thải theo hệ thống tuần hoàn: 3. chưa xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, xây dựng theo mã định danh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm thịt lợn được sản xuất theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học nên người chăn nuôi còn gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; 4. các cơ quan chức năng chưa làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn và giám sát người nuôi áp dụng nghiêm ngặt quy trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm thịt lợn được sản xuất theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học; (5) khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp, HTX và hộ còn hạn chế; (6) thiếu cơ chế tạo điều kiện cho nhân rộng các mô hình thành công trong chăn nuôi theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học, đặc biệt là mô hình 4F.

 

Do đó, ngoài nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong khâu chăn nuôi, ngoài việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ bảo quản và chế biến thịt lợn theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học, quản lý chuỗi giá trị thịt lợn hữu cơ để đảm bảo lợi ích  của cả người nuôi, người tiêu dùng và đánh giá hiệu quả của các mô hình thành công trong chăn nuôi theo hướng hữu cơ và an toàn sinh học (4F) trên cơ sở đó đề xuất chính sách phát triển chuỗi giá trị thịt lợn hữu cơ và an toàn sinh học là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần tái cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam.

 

Chia sẻ: 

Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi hasco

15 Lô 2A Vũ Phạm Hàm, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
024.22.000.777
Số lượt truy cập: 941373
Đang trực tuyến: 3
© Hasco.com.vn All right reserved. Thiết kế bởi VINNO